![]() |
| Quyết Toán Thuế TNDN |
1.Dịch vụ đã lập hóa đơn nhưng chưa cung ứng:
Theo quan điểm của kế toán: Doanh thu của giao dịch về cung
cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách
đáng tin cậy (4 điều kiện):
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp
dịch vụ đó;
- Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập
BCĐKT;
- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để
hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Theo quan điểm của thuế:
Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng
dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ. Trường hợp
thời điểm lập hóa đơn xảy ra trước thời điểm dịch vụ hoàn thành thì thời điểm
xác định doanh thu được tính theo thời điểm lập hóa đơn. (Thông tư số 130 ngày
26/12/2008)
Trường hợp tổ chức cung ứng dịch vụ thực hiện thu tiền trước
hoặc trong khi cung ứng dịch vụ thì ngày lập hóa đơn là ngày thu tiền. (Thông
tư số 153 ngày 08/09/2010)
2. Doanh thu dịch vụ nhiều kỳ:
Thời điểm xác định doanh thu theo kế toán:
Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận
khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy (4 điều kiện).
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều
kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn
thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán của kỳ đó.
Thời điểm xác định doanh thu theo thuế:
Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng
dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ. Trường hợp
thời điểm lập hóa đơn xảy ra trước thời điểm dịch vụ hoàn thành thì thời điểm
xác định doanh thu được tính theo thời điểm lập hóa đơn. (Thông tư số 130 ngày
26/12/2008)
Trường hợp tổ chức cung ứng dịch vụ thực hiện thu tiền trước
hoặc trong khi cung ứng dịch vụ thì ngày lập hóa đơn là ngày thu tiền. (Thông
tư số 153 ngày 08/09/2010)
3. Doanh thu hợp đồng xây dựng:
Căn cứ xác định doanh thu theo kế toán: Ghi nhận doanh thu
căn cứ vào chứng từ xác định doanh thu tương ứng phần công việc đã hoàn thành
trong kỳ (không phải là hóa đơn). (Chuẩn mực kế toán số 15)
Căn cứ xác định doanh thu theo thuế: Đối với hoạt động xây dựng,
lắp đặt là giá trị công trình, giá trị hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng
công trình xây dựng, lắp đặt nghiệm thu. (Thông tư số 130 ngày 26/12/2008)
Lưu ý:
Khi hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo
tiến độ kế hoạch:
Trường hợp 1: Khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước
tính một cách đáng tin cậy thì:
Doanh thu của hợp đồng xây dựng được ghi nhận tương ứng với
phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập Báo cáo tài
chính mà không phụ thuộc vào hóa đơn thanh toán theo tiến độ kế hoạch đã lập
hay chưa và số tiền ghi trên hóa đơn là bao nhiêu. (Thông tư 161/2007 ngày
31/12/2007)
Nhà thầu phải lựa chọn phương pháp xác định phần công việc
đã hoàn thành và giao trách nhiệm cho các bộ phận liên quan xác định giá trị phần
công việc đã hoàn thành và lập chứng từ phản ánh doanh thu hợp đồng xây dựng
trong kỳ.
Nếu áp dụng phương
pháp (a) “Tỷ lệ phần trăm (%) giữa chi phí đã phát sinh của phần công việc đã
hoàn thành tại một thời điểm so với tổng chi phí dự toán của hợp đồng” thì giao
cho bộ phận kế toán phối hợp các bộ phận khác thực hiện.
Nếu áp dụng phương
pháp (b) “Đánh giá phần công việc đã hoàn thành” hoặc phương pháp (c) “ Tỷ lệ
phần trăm (%) giữa khối lượng xây lắp đã hoàn thành so với tổng thể khối lượng
xây lắp phải hoàn thành của hợp đồng” thì giao chọ bộ phận kỹ thuật thi công phối
hợp các bộ phận khác thực hiện.
Trường hợp 2: Khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng không
thể ước tính được một cách đáng tin cậy thì:
Doanh thu chỉ được ghi nhận tương đương với chi phí của hợp
đồng đã phát sinh mà việc được hoàn trả là tương đối chắc chắn. Chi phí của hợp
đồng chỉ được ghi nhận là chi phí trong kỳ khi các chi phí này đã phát sinh.
(Thông tư 161/2007 ngày 31/12/2007)
Nhà thầu phải căn cứ vào hợp đồng xây dựng để lập chứng từ
thanh toán theo tiến độ kế hoạch gửi cho khách hàng đòi tiền. Kế toán căn cứ
vào chứng từ để ghi sổ kế toán số tiền khách hàng phải thanh toán theo tiến độ
kế hoạch.
4. Trường hợp DN được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà để chuyển nhượng hoặc cho thuê:
Trường hợp DN được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực
hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà để chuyển nhượng hoặc cho thuê, có thu tiền
ứng trước của khách hàng theo tiến độ dưới mọi hình thức thì thời điểm xác định
doanh thu tính thuế TNDN tạm nộp là thời điểm thu tiền của khách hàng.
Trường hợp DN có thu tiền của khách hàng mà đã xác định được
chi phí tương ứng với doanh thu thì DN kê khai nộp thuế TNDN tạm nộp theo doanh
thu trừ chi phí.
Trường hợp DN có thu tiền của khách hàng mà chưa xác định được
chi phí tương ứng với doanh thu thì DN kê khai tạm nộp thuế TNDN theo tỷ lệ 2%
trên doanh thu thu được tiền và doanh thu này chưa phải tính vào doanh thu tính
thuế TNDN trong năm.
Chú ý: Các doanh nghiệp trước năm 2009 đã thu tiền của khách
hàng theo tiến độ công trình nhưng chưa kê khai nộp thuế TNDN thì số tiền đã
thu được của khách hàng phải kê khai vào năm 2009 để xác định số thuế TNDN tạm
nộp theo nguyên tắc nêu trên.
Khi bàn giao bất động sản, doanh nghiệp quyết toán lại số
thuế TNDN phải nộp. trường hợp số thuế TNDN đã tạm nộp thấp hơn số thuế TNDN phải
nộp thì doanh nghiệp phải nộp đủ số thuế còn thiếu vào Ngân sách Nhà nước. Trường
hợp số thuế TNDN đã tạm nộp lớn hơn số thuế phải nộp thì doanh nghiệp được trừ
số thuế nộp thừa vào số thuế TNDN phải nộp của kỳ tiếp theo hoặc được hoàn lại
số thuế đã nộp thừa.
(Thông tư
130/2008/TT-BTC ngày 26/10/2008 của BTC)
5. Doanh thu đối với HHDV trao đổi tương tự:
Theo quan điểm của kế toán: Khi HHDV được trao đổi để lấy
HHDV tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một
giao dịch tạo ra doanh thu và không được ghi nhận là doanh thu. (Chuẩn mực kế
toán số 14)
Theo quan điểm của thuế: Đối với HHDV dùng để trao đổi…; được
xác định theo giá bán của SP, HHDV cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại
thời điểm trao đổi … (Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/10/2008 của BTC)
6. Doanh thu cho, vay, mượn hoặc hoàn trả HH:
Theo quan điểm của kế toán: Chỉ ghi nhận doanh thu bán SP,
HH khi thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện sau:
- DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu SP hoặc HH cho người mua.
- DN không còn nắm giữ
quyền quản lý HH như người sở hữu HH hoặc quyền kiểm soát HH.
- Doanh thu được xác
định tương đối chắc chắn.
- DN đã thu được hoặc
sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
- Xác định được chi
phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Theo quan điểm của
thuế: Xuất HHDV dưới các hình thức cho, vay, mượn hoặc hoàn trả hàng hóa …thì
phải lập hóa đơn GTGT theo quy định như trường hợp mua, bán hàng hóa thông thường.
(Thông tư 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của BTC)
7. Sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ:
Theo quan điểm của kế toán: Nếu SP, HH, DV thuộc nhóm đối tượng
chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ tiêu dùng nội bộ để phục vụ cho sản
xuất kinh doanh HH, DV thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu
trừ, khi xuất dùng SP, HH sử dụng nội bộ, kế toán phản ánh DT bán hàng nội bộ
theo chi phí sản xuất SP hoặc giá vốn HH. (Thông tư 244/2009/TT-BTC ngày
31/12/2009 của BTC)
Theo quan điểm của thuế: Đối với
HH,DV dùng để trao đổi; biếu, tặng, cho; tiêu dùng nội bộ được xác định theo
giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường
tại thời điểm trao đổi; biếu, tặng, cho; tiêu dùng nội bộ. (Thông tư
130/2008/TT-BTC ngày 26/10/2008 của BTC)
